MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, BẢO HIỂM XÃ HỘI, ĐƯA NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/2020/NĐ-CP NGÀY 01 THÁNG 3 NĂM 2020

Ngày 13 tháng 03 năm 2020

           Ngày 01/3/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

           Nghị định này áp dụng với các đối tượng là người sử dụng lao động và các cá nhân, tổ chức khác có hành vi vi phạm hành chính; người có thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

         Về hành vi trốn đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp:

            Căn cứ theo Khoản 10, Điều 2, Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tội trốn đóng Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp thì hành vi trốn đóng BHXH, BHTN của người sử dụng lao động là hành vi của người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng BHXH, BHTN cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ BHXH cho người lao động thuộc đối tượng phải tham gia BHXH. 

           Hành vi này quy định tại Khoản 5, Khoản 6, Điều 38, Nghị định 28/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/3/2020 (sau đây viết tắt là Nghị định 28/2020/NĐ-CP) về việc vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là BHXH) bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp (sau đây viết tắt là BHTN) cho người lao động thì người sử dụng lao động sẽ phải chịu mức phạt như sau:

           Phạt tiền từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHTN mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

            Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc, BHTN mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.”

          Điều 38, Điều 39, Điều 40 Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định mức xử phạt các hành vi vi phạm khác liên quan đến BHXH, BHTN của người sử lao động. Cụ thể các vi phạm và mức phạt đối với người sử dụng lao động như sau:

          Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nếu người sử dụng lao động: Hằng năm, không niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại Khoản 7, Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội; Không thực hiện thủ tục xác nhận về việc đóng BHTN cho người lao động để người lao động hoàn thiện hồ sơ hưởng BHTN theo quy định; Không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin về đóng BHXH bắt buộc, BHTN của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

           Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu: Không cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng BHXH bắt buộc, BHTN theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan bảo hiểm xã hội.

           Phạt tiền từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 nếu: Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; Đóng BHXH, BHTN không đúng mức quy định mà không phải là trốn đóng; Đóng BHXH, BHTN không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp mà không phải là trốn đóng.

          Ngoài ra tại Điều 38, Nghị định 28/2020/NĐ-CP còn quy định việc xử phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia BHXH bắt buộc, BHTN, tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định.

          Người sử dụng lao động có hành vi trốn đóng BHXH, BHTN hoặc có các hành vi vi phạm khác liên quan đến việc đóng BHXH, BHTN sẽ bị xử phạt hành chính, nặng hơn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật quy định tại Bộ luật hình sự 2015.

          Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động, thực hiện hợp đồng lao động:

          Phạt tiền từ 2.000.000 đồng - 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; Không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động; Giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động; Giao kết hợp đồng lao động trong trường hợp thuê người lao động làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước không theo quy định của pháp luật.

          Phạt tiền từ 20.000.000 đồng - 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây: Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động; buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động; giao kết hợp đồng lao động với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

          Phạt tiền từ 3.000.000 đồng - 7.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Bố trí người lao động làm việc ở địa điểm khác với địa điểm làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Bộ luật Lao động; Không nhận lại người lao động trở lại làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, trừ trường hợp người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận khác; Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động không đúng lý do, thời hạn hoặc không có văn bản đồng ý của người lao động theo quy định của pháp luật.

          Đặc biệt, Nghị định 28/2020/NĐ-CP còn quy định mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng -75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi cưỡng bức lao động, ngược đãi người lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

          Vi phạm quy định về thử việc:

          Đối với những vi phạm quy định về thử việc, Điều 9 Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ; Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng - 1.000.000 đồng.

          Trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động thử việc quá 1 lần đối với một công việc; Thử việc quá thời gian quy định; Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó; Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng -5.000.000 đồng.

          Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc trả đủ tiền lương của công việc đó cho người lao động;  Buộc giao kết hợp đồng lao động với người lao động…

           Tăng mức phạt đối với Người lao động làm giả hồ sơ hưởng bảo hiểm        xã hội:

          Theo Nghị định 28/2020/NĐ-CP người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng - 2.000.000 đồng.

          Ngoài ra, mức phạt này cũng được áp dụng với người lao động có một trong các hành vi:

          Không thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi có việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp;

         Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thông báo theo quy định với trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc một trong các trường hợp: Có việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hưởng lương hưu hàng tháng; đi học có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên.

         Mức phạt với người sử dụng lao động có hành vi làm giả, làm sai lệch nội dung hồ sơ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự từ 5.000.000 đồng - 10.000.000 đồng đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp làm giả, làm sai lệch nội dung.

          Vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài và một số đối tượng liên quan khác:

          Khoản 2, Điều 47 Nghị định 28/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 80.000.000Đ đến 100.000.000Đ đối với người lao động có một trong các hành vi sau: Ở lại nước ngoài trái phép khi hết hạn hợp đồng lao động; Bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng mà không phải do bị cưỡng bức lao động; Sau khi nhập cảnh vào nước tiếp nhận lao động mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng.

          Ngoài việc bị xử phạt bằng tiền đối với các hành vi trên, người lao động sẽ bị buộc phải về nước. 

         Ngoài ra, các các doanh nghiệp dịch vụ vi phạm điều kiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể bị phạt tiền từ: 150.000.000đ đến 180.000.000đ đối với doanh nghiệp dịch vụ có một trong các hành vi: Giao nhiệm vụ cho quá 03 chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Giao nhiệm vụ cho chi nhánh không đúng theo quy định của pháp luật; Chi nhánh doanh nghiệp dịch vụ thực hiện vượt quá phạm vi nhiệm vụ được giao về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hoặc thực hiện nhiệm vụ không đúng với quy định của pháp luật; Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn bị tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện hợp đồng cung ứng lao động, đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc sau khi đã nhận được thông báo về việc không đổi Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Phạt tiền từ 180.000.000 đến 200.000.000 đối với một trong các hành vi như: sử dụng Giấy phép hoạt động của doanh nghiệp khác để tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp mình…. Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền còn có thể bị buộc đình chỉ hoạt động đến 06 tháng và khắc phục hậu quả.  

          Về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

          Điều 48 Nghị định 28/2020/NĐ-CP cũng chỉ rõ thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính được quy định bao gồm:

          Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều 49, 50, 51, 52, 53, 54 của Nghị định này theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

          Công chức, viên chức đang làm nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

          Nghị định 28/2020/NĐ-CP cũng nêu rõ: Các mức phạt tiền nêu trên là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

         Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ban hành ngày 01 tháng 3 năm 2020 có hiệu thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2020 thay thế cho Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 và Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015.

                                                   Lê Ngọc Chúc - Phó Chánh Thanh tra